Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    0.b1_20nam.jpg 0.Hay_den_voi_chung_toi.swf 0.chao_co_nhac.swf 0.Tho_Tuy.swf 0.Cat_tuong.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Thủ thuật - Kinh nghiệm >

    skkn.2011

    PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

    QUA VIỆC SOẠN VÀ DẠY BẰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

    ************

    I- ĐẶT VẤN ĐỀ

    Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin (CNTT). CNTT bùng nổ đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống con người, trong đó có cả lĩnh vực giáo dục. Việc ứng dụng CNTT trong nhà trường đã giúp Ban giám hiệu và tổ chuyên môn nâng cao chất lượng quản lý giáo dục, giúp thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học; giúp học sinh tìm kiếm các nguồn tư liệu để bổ trợ vốn kiến thức của mình.

    Để thực hiện tốt đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn lao động trong thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa; việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy và học tập có một vai trò và hiệu quả nhất định. CNTT giúp mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới phương pháp và hình thức học tập.

    Kể từ năm học 2008-2009, năm học đầu tiên triển khai thực hiện chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012; cũng là năm học được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đến nay, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy tại trường THCS Trần Phú nói chung và bộ môn tiếng Anh nói riêng luôn được chú trọng, triển khai và đẩy mạnh về hình thức và đồng đều ở tất cả các giáo viên trong tổ.

    Tổ ngoại ngữ trường THCS Trần Phú luôn nâng cao nhận thức rằng việc ứng dụng CNTT phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất; cụ thể là soạn dạy bằng bài giảng điện tử. Chính vì vậy mà ngay từ đầu năm học 2010-2011, bản thân tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài này để nghiên cứu: “Phát huy tính tích cực của học sinh qua việc soạn dạy bằng bài giảng điện tử”.

    1- CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Dựa trên chỉ thị số 55/2008/CT_BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2008-2012, là đào tạo nguồn nhân lực có tri thức tiên tiến, có sức khỏe và trí tuệ để có thể nhanh chóng nắm bắt những thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới thì cần phải thực hiện đổi mới giáo dục, mà trước tiên là đổi mới phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học truyền thống lấy người dạy làm trung tâm, theo hướng thầy đọc trò chép, năng lực của người học được hình thành chủ yếu là qua việc học thuộc lòng; mà chưa quan tâm đến người học; đó là phải giúp học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo, ưa thích khám phá, có ý chí tự lực trong quá trình lĩnh hội tri thức. Chính vì vậy, việc soạn và dạy bằng bài giảng điện tử sẽ đóng góp một phần vào việc đào tạo một thế hệ học sinh mới có năng lực tư duy, sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức của mình.

    2- CƠ SỞ THỰC TIỄN

    1.     Thuận lợi:

    1.1.Về đội ngũ:

    + 100% giáo viên ở tổ ngoại ngữ trường THCS Trần Phú (5 người) đều có trình độ đại học, còn tương đối trẻ, kinh tế tương đối ổn định nên thuận lợi trong việc mua sắm các thiết bị dạy học, ham học hỏi tìm kiếm những tri thức, kỹ năng và ứng dụng của CNTT trong việc soạn và dạy bằng bài giảng điện tử.

    + Vì là giáo viên tiếng Anh nên chúng tôi dễ dàng tiếp cận, khai thác và sử dụng máy tính cũng như các phần mềm dạy học do hầu hết các chương trình máy tính hiện nay đều sử dụng tiếng Anh.

    + Trước khi triển khai việc soạn và dạy bằng bài giảng điện tử, thì chúng tôi đã tiến hành soạn giáo án trên phần mềm Microsoft Word, mà phần mềm trình chiếu Microsoft Powerpoint thì có nhiều nét tương đồng với phần mềm soạn thảo văn bản; lại được tích hợp sẵn trong bộ Office của bất kỳ máy tính nào, nên không phải tốn thêm kinh phí đầu tư.

    + Trong các buổi sinh hoạt ở tổ chuyên môn, chúng tôi đã triển khai rất nhiều chuyên đề hỗ trợ cho việc soạn dạy bằng bài giảng điện tử như “Trình bày một giáo án điện tử”; “Khai thác tư liệu từ Internet hỗ trợ cho bài giảng điện tử”; “Cách thiết kế một số hoạt động hỗ trợ cho bài giảng tiếng Anh như Lucky Number; Matching; Pelmanism; Crossword;…”

    +Học sinh đã được học với bài giảng điện tử trong khoảng 2 năm rồi nên không còn bỡ ngỡ như những ngày đầu triển khai bài giảng điện tử.

    1.2.Về cơ sở vật chất:

    + Trường có 01 phòng máy vi tính; do 01 giáo viên có trình độ đại học tin quản lý nên thuận lợi cho các thầy cô giáo muốn thực hành các kiến thức vừa cập nhật.

    + Riêng giáo viên tổ ngoại ngữ có 04 máy tính xách tay (chiếm 80%) có nối mạng Internet thuận lợi trong việc khai thác tư liệu cho bài học và giảng dạy trên lớp.

    + 03 phòng dạy học bằng bài giảng điện tử; trong đó 02 phòng mới được trang bị TV LCD 50” nên các thầy cô có điều kiện rất tốt để thực hiện giảng dạy bằng bài giảng điện tử.

    + Hiện nay trường đã có Website riêng : violet.vn/thcs-tranphu-quangnam

    + 100% giáo viên đều có email cá nhân và là thành viên của rất nhiều diễn đàn giáo dục uy tín: violet.vn; moet.edu.vn; tienganh.com.vn; ioe.goonline.vn,…

    2.     Khó khăn:

    + Trình độ, năng lực khai thác và ứng dụng CNTT ở các giáo viên chưa đồng đều, nhất là những giáo viên nữ và chưa có máy tính nối mạng Internet.

    + Việc ứng dụng CNTT trong việc khai thác tư liệu phục vụ cho bài giảng làm mất nhiều thời gian của giáo viên nên có giáo viên còn ngại.

    + Một vài giáo viên vẫn còn tư tưởng ỷ lại, chỉ lên mạng giáo dục và download những bài học có sẵn về dạy mà không chỉnh sửa cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp mình.

    + Một vài giáo viên ít dạy bằng bài giảng điện tử nên kỹ năng sử dụng máy tình có phần lúng túng.

    Qua thực tế một số tiết dạy thao giảng, chúng tôi nhận thấy rằng ở một số tiết học các thầy cô phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, nhưng một số tiết thì chưa đáp ứng được yêu cầu này là do các tiết học không được lồng vào những hoạt động phù hợp, bài giảng điện tử mà không khác gì những bảng phụ thông thường nên giờ học thiếu sinh động. Chính vì vậy, trong phạm vi nhiên cứu của đề tài này tôi xin nêu ra một số giải pháp nhằm khắc phục thực trạng trên.

    II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    (?) Thế nào là bài giảng điện tử?

    Bài giảng điện tử khác với bài giảng truyền thống (phấn trắng bảng đen) ở chỗ bài giảng điện tử được xây dựng bằng CNTT kết hợp giữa kênh hình và kênh chữ, có hình ảnh, màu sắc, âm thanh, các video clips sống động và hấp dẫn hơn. Bài giảng trở nên lôi cuốn với những hiệu ứng âm thanh và hình ảnh; nó có tính tương tác cao và có thể tùy chỉnh cho phù hợp với trình độ của các lớp học.

    (?) Ai có thể thực hiện được bài giảng điện tử?

    + Tất cá giáo viên có kiến thức căn bản về tin học văn phòng, có khả năng sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản và trình chiếu; biết sử dụng Internet và khai thác các tư liệu phù hợp với bài giảng; và phải có nhận thức đúng về việc cần thiết phải giảng dạy tiếng Anh bằng bài giảng điện tử.

    Dưới đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện trong các năm học qua và nhận thấy nó đã phát huy được tính tích cực của học sinh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học bộ môn tiếng Anh, xin được nêu ra như sau:

    1)    Tạo các tình huống giao tiếp trong các tiết học:

    Thực tế giảng dạy cho thấy, các em học sinh trong một số tiết học nhất là theo kiểu truyền thống, rất ít tham gia tích cực vào việc xây dựng bài. Một trong những nguyên nhân đó là giáo viên không nêu các tình huống để các em suy nghĩ. Chẳng hạn như dạy bài hội thoại “Unit 3 - Tiếng Anh 7 – What a lovely home!”, giáo viên có thể nêu vấn đề như sau: “Hoa giới thiệu những phòng nào trong nhà của bạn ấy? Theo thứ tự nào?”. Nếu dạy theo kiểu truyền thống thì rất khó để học sinh trả lời vì các em phải đọc một bài hội thoại rất dài. Giáo viên có thể nhờ bài giảng điện tử hỗ trợ trong phần nêu vấn đề như sau: “Các em sẽ được xem video bạn Hoa giới thiệu các căn phòng trong nhà mình. Bạn ấy giới thiệu những phòng nào và theo trình tự nào?”; sau đó giáo viên mở video (CD room Tiếng Anh 7 – Xứ sở Boongboong – NXB Giáo dục) thì học sinh sẽ rất dễ dàng trả lời câu hỏi này bởi vì các em sẽ được xem một đoạn video dài khoảng 3 phút với hình ảnh các phòng trong nhà Hoa rất rõ ràng.

    Hoặc là, khi dạy hội thoại: Listen & Read – Tiếng Anh 8 – Unit 11 giáo viên có thể nêu tình huống như sau: “How are they going to travel?” Sau đó giáo viên mở đĩa, file video thì học sinh rất dễ dàng tiếp cận với tình huống vì âm thanh xe chạy được minh họa rất rõ, ngay cả học sinh yếu cũng có thể nghe và trả lời được: “By car/taxi”.

    Một ví dụ nữa về việc nêu tình huống ở lớp 7 là sau khi học hội thoại “What shall we eat? – Unit 12”, học sinh đã trả lời xong câu hỏi trong bài học là “They bought beef, cucumber, spinach and oranges”, giáo viên có thể nêu vấn đề như sau: “What are they going to cook?”. Với cách tạo tình huống giao tiếp này học sinh sẽ thảo luận và đưa ra ý kiến của mình: “They are going to cook lunch/ soup/ meat/ cucumber salad/…”, góp phần làm cho giờ dạy sinh động và sôi nổi hơn, phát huy được tư duy và tính sáng tạo của các em được nhiều hơn.

    2)    Tạo không khí thi đua đối với các tổ, nhóm:

    Rõ ràng là tâm lý học sinh THCS rất thích thi đua và nói chung một giờ học thường thực sự bùng nổ khi giáo viên tổ chức cho các em các trò chơi thể hiện tính thi đua giữa các đội, nhóm hay tổ thì các em thường rất hào hứng tham gia. Đối với khía cạnh này, nếu giáo viên dạy học dùng phấn trắng bảng đen truyền thống thường không gây được hứng thú cho học sinh vì không có điều kiện tổ chức các trò chơi mà việc này thì một bài giảng điện tử thường được tiến hành rất dễ dàng. Để tổ chức thi đua, giáo viên cũng cần qui định rõ đội, nhóm trong một lớp ngay từ đầu năm học. Nếu thi theo đội có thể chia thành hai đội, nếu theo nhóm có thể hai hoặc ba; và theo tổ thì dựa vào tổ chức lớp của GVCN. Nội qui của mỗi cuộc thi cũng được qui định thống nhất từ đầu năm học, chẳng hạn như thi “Lucky Number” thì nếu chọn được Lucky Number thì đội đó sẽ được chọn số tiếp hay thôi…

    Sau một số tiết được dự giờ thao giảng của đồng nghiệp khi tổ chức các trò chơi trong các tiết học, tôi nhận thấy các giáo viên có vận dụng trò chơi Lucky Number (Con số may mắn) nhưng học sinh không được hứng thú lắm do hình thức trò chơi này quá quen thuộc đối với các em. Chính vì vậy, tôi đề xuất sử dụng các hình thức khác để bổ sung cho trò chơi này, cũng như sử dụng các màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú; hình thức cộng điểm cũng nên thay đổi cho phù hợp. Chẳng hạn như, giáo viên có thể qui định đối với học sinh khá giỏi có thể cộng mười (+10) điểm cho mỗi câu trả lời đúng, nhưng nếu học sinh trung bình-yếu trả lời đúng có thể thêm điểm thưởng để khích lệ nhiều học sinh tham gia trả lời hơn.

    Ngoài ra, trong một giờ học giáo viên có thể linh động vận dụng các trò chơi khác để mang lại sự hứng thú và thoải mái cho các em. Các trò chơi có thể được vận dụng ở rất nhiều thời điểm như: Warm up; Check vocab; While-reading; While speaking; While-listening; Practice; Production; Post,… và giáo viên cũng cần lưu ý các trò chơi nên đa dạng, phong phú thì mới hấp dẫn, lôi cuốn được nhiều đối tượng học sinh tham gia.

    3)    Soạn dạy theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh:

    Một trong những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, đó là giáo viên phải sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết dạy. Các phương tiện dạy học hiện có sẽ giúp giáo viên rất nhiều trong việc giới thiệu và khai thác nội dung bài học, đặc biệt là những vấn đề trừu tượng. Chẳng hạn như, sẽ không có cách giới thiệu bài học nào hiệu quả hơn bằng cách dùng video clip để giới thiệu bài học “The environment – Tieng Anh 9” với thời lượng khoảng 1,5 phút trong đó các em sẽ được xem một video clip về môi trường và những tác hại của vấn đề môi trường. Hay là đối với lớp 7 “Unit 13 – Read B3/p.136” về môn thể thao lặn với các thuật ngữ rất khó để học sinh hình dung và hiểu được bằng cách dùng video clip về tàu Calipso thì học sinh sẽ dễ dàng hiểu được các từ “diver: thợ lặn; diving: lặn; scuba-diving: lặn có bình hơi; diving vessel: tàu lặn; TV camera: máy ghi hình” trong bài đọc này.

    Cũng theo yêu cầu đổi mới phương pháp, giáo viên cần dành nhiều thời gian cho học sinh thực hành, mà điều này thì chỉ có được nếu các nội dung, hay câu hỏi, bảng thông tin,… phải được soạn sẵn. Sẽ là không khả thi nếu dùng bảng đen phấn trắng thông thường để thiết kế ô chữ hay câu hỏi trắc nghiệm vì tốn quá nhiều thời gian; không hấp dẫn nếu thầy cô muốn dùng các hoạt động như Jumbled Sentence (xáo trộn câu) hay Jumbled Word (xáo trộn từ); nhưng nếu dùng bài giảng điện tử thì rất dễ dàng.

    Đặc biệt, đối với kiểu bài Language Focus thường có rất nhiều bài tập trong 1 tiết học 45’, giáo viên soạn sẵn nội dung các bài tập và bố trí ở các slides để trình chiếu. Tôi thường nghiên cứu kỹ bài dạy, xem nội dung nào là kiến thức mới thì sẽ đưa lên dạy trước, nếu nội dung nào là nhắc lại thì cho các em làm sau. Do hiện nay học sinh sử dụng rất nhiều sách tham khảo để làm bài tập nên nếu giáo viên dạy theo kiểu truyền thống sẽ gặp thực tế là các em nhìn sách/ vở trả lời mà thiếu tư duy, sáng tạo; giáo viên rất khó kiểm soát học sinh có thực sự hiểu bài hay không. Hạn chế này có thể khắc phục được bằng cách dùng bài giảng điện tử: giáo viên có thể thay đổi thứ tự các câu hỏi trong mỗi bài tập để buộc học sinh phải suy nghĩ và trả lời; giáo viên có thể yêu cầu học sinh gấp sách vở chỉ nhìn lên màn hình để làm bài; nhờ vậy học sinh vẫn có thể sử dụng lại sách giáo khoa cũ góp phần tiết kiệm một khoản không nhỏ cho gia đình các em vốn đa số có thành phần gia đình là nông dân nghèo.

    4)    Soạn dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng:

    4.1. Bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng:

    Từ thực tế dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy ở một vài tiết học, giáo viên triển khai quá nhiều nội dung và bài tập khiến cho học sinh cảm thấy bối rối, mất tập trung vào kiến thức trọng tâm, gây quá tải đối với học sinh vùng nông thôn còn nhiều khó khăn về điều kiện học tập. Bản thân tôi trước khi soạn bài thường nghiên cứu kỹ nội dung bài học để xây dựng mục tiêu, yêu cầu của bài học. Từ đó sẽ rút ra những nội dung cũng như phương pháp giảng dạy cho phù hợp với trình độ của học sinh mà vẫn đảm bảo mục tiêu, yêu cầu của bài học. Cần phải xác định rõ rằng, bài giảng điện tử chỉ là phương tiện dạy học, quan trọng hơn là phần nội dung phải chính xác, khoa học, không gây quá tải đối với học sinh; đáp ứng yêu cầu theo chuẩn kiến thức kỹ năng.

    4.2. Khai thác hợp lý nội dung bài học ở sách giáo khoa:

    Một người giáo viên tốt phải luôn thể hiện là một tấm gương tự học và sáng tạo. Tính sáng tạo của giáo viên thể hiện ở chỗ trên cơ sở bài học ở sách giáo khoa, giáo viên có thể thiết kế một số hoạt động hay bài tập cho phù hợp với trình độ của học sinh và đối phó với tình trạng lạm dụng sách tham khảo của học sinh hiện nay. Trong một số tiết học, một số bài học giáo viên phải chịu khó đầu tư, suy nghĩ để trên cơ sở nội dung sách giáo khoa giáo viên cần biên tập lại để có được những câu hỏi và bài tập đòi hỏi học sinh phải thực sự suy nghĩ và làm việc; có như vậy giáo viên mới có thể đánh giá trình độ thật của các em.

    Ví dụ như ở lớp 9, Unit 7 phần Listen & Read, yêu cầu bài tập ở sách giáo khoa là học sinh trả lời Đúng/Sai (True/False) 5 câu. Sau đây là so sánh bài dạy theo kiểu truyền thống và bài giảng điện tử có khai thác hợp lý nội dung sách giáo khoa:

     

    Kiểu dạy truyền thống

    (Học sinh nhìn sách trả lời)

    Bài giảng điện tử

    (Học sinh nhìn lên màn hình – Giáo viên sử dụng trò chơi Sharp-eyed contest)

    1.     Mrs Ha is worried about her water bill.

    2.     Mrs Mi gives Mrs Ha advice on how to save water.

    3.     Mrs Ha has checked the pipes in her house and found no cracks.

    4.     Mrs Ha suggests getting some tool to check cracks in the pipes.

    5.     Mrs Mi suggests taking showers to save water.

    àHọc sinh nhìn vào câu hỏi ở sách giáo khoa với đáp án đã được các thế hệ học sinh trước đây ghi sẵn rồi trả lời, có thể các em thực sự không hiểu hết nghĩa của câu hỏi, của bài học. Nếu giáo viên chủ quan nghĩ rằng học sinh trả lời đúng tất cả các câu hỏi rồi thì thật tai hại vì việc hiểu bài của các em chưa tốt.

    1.     Mrs Ha is worried about her water pipe. (False: pipe àbill)

    2.     Mrs Mi gives Mrs Ha advice on why to save water. (False: why àhow)

    3.     Mrs Ha has checked the pipes and found some cracks. (False: some àno)

    4.     Mrs suggests getting a plumber to check the cracks in the pipes. (True)

    5.     Mrs Mi suggests taking shower to waste water. (False: waste àsave)

    àGiáo viên biên tập lại nội dung câu hỏi theo bài học ở sách giáo khoa, học sinh phải đọc kỹ câu hỏi rồi mới trả lời. Nếu các em trả lời tốt các câu hỏi thì mới có thể khẳng định các em hiểu bài tốt.

     

    5)    Soạn dạy dựa theo tâm lý, hứng thú và tích cực hóa vai trò của người học:

    Quan điểm dạy học hiện nay là phải hướng đến người học; thực hiện dạy học lấy người học làm trung tâm. Trên cơ sở đó, giáo viên nghiên cứu tâm lý, nhu cầu, hứng thú của người học để xây dựng bài học mà vẫn đảm bảo yêu cầu về nội dung, phương pháp. Trong quá trình dạy học, giáo viên phải quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh; bên cạnh đó phải khai thác hợp lý đồ dùng dạy học hiện có là bảng đen. Ở một số tiết dự giờ đồng nghiệp, giáo viên thoát ly hoàn toàn bảng đen, như vậy là rất lãng phí mà nên khai thác bảng ghi đề mục, sườn bài học. Bên cạnh đó có thể dùng bảng đen để học sinh viết từ vựng, câu trả lời, làm các bài tập…Đối với tiết học sử dụng bài giảng điện tử, giáo viên phải chú ý thiết kế và khai thác kênh hình phù hợp với tâm lý nhận thức của học sinh, kênh chữ phải rõ ràng, màu sắc hài hòa với cỡ chữ tối thiểu 28 theo nguyên tắc nền đậm – chữ sáng và ngược lại. Kênh âm thanh phải đảm bảo chất lượng rõ ràng, không nhỏ quá hay lớn quá để đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều nghe được tốt. Trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên cũng cần qui định học sinh sử dụng bảng con để trả lời cá nhân hoặc nhóm (tất cả thành viên trong nhóm đều phải viết câu trả lời vào bảng), tránh tình trạng một số em ỷ lại vào bạn trưởng nhóm mà không làm việc và hợp tác. Sau một khoảng thời gian qui định, giáo viên yêu cầu học sinh giơ bảng và gọi vài em lên phía trước trưng bày kết quả của mình. Các em học sinh rất thích được mọi người thấy và ghi nhận thành quả của mình; đặc biệt là học sinh trung bình, yếu. Nếu chúng ta kết hợp đồng bộ nhiều phương tiện dạy học như vậy (bài giảng điện tử + âm thanh + bảng đen + bảng con), chắc chắn sẽ làm cho giờ học tiếng Anh sẽ hiệu quả hơn, học sinh tích cực hơn và hứng thú hơn và giáo viên cũng sẽ say mê sáng tạo nhiều hơn nữa..

    Ở giai đoạn cuối mỗi tiết học, tôi thường thiết kế phần củng cố theo hình thức trắc nghiệm với các lựa chọn A, B, C hoặc D với thời lượng mỗi câu hỏi một phút trên cơ sở từ vựng, cấu trúc hay bài đọc vừa mới học nhằm ôn lại các kiến thức trọng tâm. Các em dùng bảng con để trả lời với số lượng khoảng 5 câu. Sau câu hỏi số 5 tôi thường gọi 3 em trưng bày bảng con của mình trước lớp và tính điểm thưởng cho các em có câu trả lời tốt. Với hình thức củng cố như thế này vừa giúp các em khắc sâu kiến thức vừa tạo động lực để các em chú ý theo dõi bài học ngay từ những bước đầu tiên của tiết dạy; nhờ vậy mà các em lĩnh hội tri thức được tốt hơn.

    III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

         Bảng 1: So sánh tỉ lệ học sinh đọc từ vựng tốt thời điểm đầu năm và cuối HKI.

    àNhận xét: Số lượng học sinh đầu năm học đọc được từ, câu, đoạn văn chưa tốt còn nhiều. Đến cuối HK I đã giảm đáng kể số lượng học sinh đọc chưa tốt.

         Bảng 2: So sánh tỉ lệ học sinh thời điểm đầu năm và cuối HKI.

    àNhận xét: Tỉ lệ học sinh có điểm trung bình môn tiếng Anh yếu, kém đã giảm rõ rệt. Tỉ lệ học sinh trung bình, khá, giỏi tăng hơn nhiều so với đầu năm học.

    IV- KẾT LUẬN

    Từ những biện pháp đang áp dụng như đã nêu ở trên, bản thân tôi nhận thấy rằng các em học sinh ham học giờ học tiếng Anh bằng bài giảng điện tử đã tăng lên; đặc biệt là các em học sinh yếu. Các em đã có thái độ học tập tích cực hơn; việc chuẩn bị bài ở nhà của các em tốt hơn trước rất nhiều. Trong giờ học, có nhiều đối tượng học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài; không khí học tập luôn sôi nổi, vui vẻ, thoải mái. Các em tiếp thu bài học thường đạt hiệu suất rất cao. So với trước đây, không có nhiều học sinh phát biểu, ít học sinh nói tốt; về lâu dài các em học sinh yếu sẽ cảm thấy đuối và không mấy hứng thú trong giờ học tiếng Anh.

    Tất nhiên, bên cạnh những biện pháp đổi mới trong việc soạn và dạy bằng bài giảng điện tử một tiết học tiếng anh như đã đề cập trên đây, giáo viên còn cần phải thực hiện linh hoạt nhiều biện pháp khác nữa như khai thác và sử dụng đồ dùng dạy  học hiệu quả, hợp lý. Tuỳ vào tình hình thực tế dạy học và điều kiện của nhà trường, giáo viên cần linh hoạt vận dụng tranh ảnh, băng hình, máy cassette,… để bài học được hiệu quả cao hơn.

    Quá trình đổi mới phải luôn xuất phát từ thực tế. Đặc biệt việc soạn dạy bằng bài giảng điện tử vẫn còn mới mẻ nên cần được phát huy và khuyến khích ở tất cả giáo viên. Tất nhiên, hiệu quả của một tiết học bằng bài giảng điện tử là lớn hơn nhiều so với kiểu dạy truyền thống; đặc biệt là ở bộ môn tiếng Anh. Tuy nhiên không vì vậy mà chúng ta lạm dụng công nghệ ở một vài tiết học có nội dung đơn giản. Phải kết hợp phương pháp, phương tiện giáo dục truyền thống với hiện đại và khai thác công nghệ ở mức độ hợp lý, tránh gây lãng phí mà cần chú ý đến sự hứng thú cũng như hiệu quả đối với người học. Có như vậy thì mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện nay là đào tạo những con người có trình độ, kỹ năng; biết tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành.

    V- ĐỀ NGHỊ

    1) Đối với Phòng giáo dục

    Phòng giáo dục nên thường xuyên tổ chức các hội nghị chuyên đề và các cuộc thi về thiết kế bài giảng điện tử để nhiều giáo viên học hỏi nhằm nâng cao chất lượng dạy – học; bắt buộc tất car giáo viên đều phải có kỹ năng sử dụng máy tính và soạn dạy bằng bài giảng điện tử.

    Phòng giáo dục cũng nên phổ biến những SKKN hay về chủ đề soạn dạy bằng bài giảng điện tử trên các website của mình để giáo viên có thể đọc, nghiên cứu học hỏi và vận dụng vào công tác dạy học của mình được tốt hơn.

    Thông qua các buổi sinh hoạt cụm chuyên môn, phòng giáo dục nên có những chuyên đề đổi mới thiết thực, sát với tình hình thực tế dạy học ở trường để tất cả giáo viên cùng tham gia góp ý kiến nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu phục vụ cho công tác dạy học. Tránh tình trạng giáo viên tham gia sinh hoạt cho có, đi dự mà không đóng góp ý kiến (dù khen hoặc chê) như vậy sẽ không có tác dụng, chỉ mất thời gian vô ích.

     

    2) Đối với BGH

    Ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu nên đưa vào qui định mỗi giáo viên phải có ý tưởng đổi mới, nghiên cứu công tác dạy học; tạo ra sự tự giác học tập, nghiên cứu cho bản thân. Ban giám hiệu nên tác động đến giáo viên, để họ nhận thức được tầm quan trọng của việc học hỏi, nghiên cứu; rằng giáo viên không cập nhật, nghiên cứu cũng đồng nghĩa với quá trình lão hoá, tụt hậu, chưa xứng đáng là tấm gương học tập cho học sinh noi theo.

    Ban giám hiệu nên phân công cho mỗi giáo viên phụ trách một lớp học nào đó trong một thời gian dài (ít nhất là một học kỳ) sẽ tốt hơn; tránh thay đổi giáo viên dạy nhiều lần đối với mỗi lớp học, vì các em chưa kịp thích nghi với những qui định của giáo viên này đã phải làm quen với những qui định của các giáo viên khác sẽ không có lợi.

    Đầu năm học, BGH có qui định giáo viên mỗi học kỳ thực hiện ít nhất 02 tiết dạy bằng bài giảng điện tử thì phải có kiểm tra; hình thức kiểm tra là để giáo viên đăng ký soạn và dạy tiết mấy theo phân phối chương trình. Giáo viên nào không thực hiện đủ, sẽ bị trừ điểm thi đua vào cuối kỳ.

     

     

     

    3) Đối với Tổ chuyên môn

    Giáo viên trong tổ cần đề cao tầm quan trọng của việc thi đua dạy, học tốt. Cần làm cho giáo viên thay đổi nhận thức rằng, giáo viên không chỉ dạy mà còn phải học. Một số giáo viên chủ quan, cho rằng với bấy nhiêu kiến thức là đủ, là thừa cho quá trình dạy học của họ. Điều này là đúng nhưng chưa đủ. Cần phải làm thế nào để ta ngày hôm nay phải hơn chính bản thân ta ngày hôm qua; ngày mai phải hơn ngày hôm nay; đó chính là kết quả của quá trình tự học, tự nghiên cứu.

    Trong các buổi sinh hoạt báo cáo chuyên đề ở tổ chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn phải đưa ra một chuyên đề có ý nghĩa thiết thực nhất đối với tổ mình; trên cơ sở đó tất cả giáo viên tổ phải tham gia nghiên cứu, trình bày trước tổ; sau đó có thể tổng hợp để làm nên sáng kiến kinh nghiệm; trước mắt là phổ biến và vận dụng ở tổ, ở trường; sau đó là ở các cấp cao hơn.

     

    Sáng kiến kinh nghiệm này chắc không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong các thầy cô giáo đóng góp để hoàn thiện và đầy đủ hơn. Xin trân trọng cảm ơn và kính chào.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1

    Adrian Doff

    Teach English

    Cambridge University Press

     

    1988

    3

    Bộ GD-ĐT

    Vụ giáo dục trung học

    Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004-07)

    NXB Giáo dục

    2005

    2

    Jeremy Harmer

    The Practice of English Language Teaching

    Longman Press

     

    1992

    4

    Luu Quy Khuong

    A Practical Course for Teaching English as a Foreign Language

    University of Danang

    2000

    5

    Đặng Hữu Hoàng

    Kỹ năng soạn giáo án điện tử Microsoft Office Powerpoint 2003

    NXB Đại học sư phạm

    2009

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    MỤC LỤC

     

     

    Nội dung

     

    Trang

    I

     

    Đặt vấn đề

    1

     

    1

    Cơ sở lí luận

    1

     

    2

    Cơ sở thực tiễn

    2

    II

     

    Giải quyết vấn đề

    3

     

    1

    Tạo tình huống giao tiếp trong các tiết học

    3

     

    2

    Tạo không khí thi đua đối với các tổ nhóm

    3

     

    3

    Soạn dạy theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh

    4

     

    4

    Soạn dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng

    5

     

    5

    Soạn dạy dựa theo tâm lý, hứng thú và tích cực hóa vai trò của người học

    6

    III

     

    Kết quả nghiên cứu

    7

    IV

     

    Kết luận

    7

    V

     

    Đề nghị

    8

     

    1

    Đối với Phòng giáo dục

    8

     

    2

    Đối với BGH

    8

     

    3

    Đối với Tổ chuyên môn

    9

    VI

     

    Tài liệu tham khảo

    10

    VII

     

    Mục lục

    11

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Trương Công Thưởng @ 07:26 11/04/2011
    Số lượt xem: 194
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

    Kích chuôt vào dòng hoặc biểu tượng dưới
    Kiến thức tin học

    Hỏi - Đáp